Ai là ai

Thứ Tư, ngày 20 tháng 11 năm 2024

Ngồi đọc Making Sense of Japanese do Giáo sư, Học giả người Mỹ Jay Rubin chấp bút, tôi nhận ra bản thân cũng cần cố gắng học… tiếng Việt.

Cuốn sách tập hợp các bài tản văn so sánh tiếng Nhật và tiếng Anh và cùng lúc chỉ cho độc giả thấy những sắc thái trong văn hoá Nhật Bản ẩn chứa trong câu văn, ngữ pháp tiếng Nhật mà một người nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ ít để ý, thậm chí không thấy, hay nhìn hoài nghe hoài mà chưa chắc đã thấy.

Lấy ví dụ đơn giản, 上げる ageru và くれる kureru đều là các động từ mang nghĩa đem cho, nhưng ageru thì cho ai chứ không cho tôi hay người thân của tôi còn kureru thì chỉ có thể là cho tôi hay người thân của tôi thôi chứ không thể cho ai khác. Người Nhật không cần suy nghĩ nhiều, chỉ cần nghe động từ là tự động biết được ai nhận, ai cho (và đến một lúc nào đó thì là ai làm cho ai cho hay ai bắt ai phải cho…). Ai nhận, ai cho? Ngữ cảnh đã cho biết đích xác ai là ai nên người Nhật khi nói chuyện với nhau không cần sử dụng đại từ nhân xưng để nhắc nhau ai là ai.

Trong khi đó tiếng Anh sử dụng đại từ nhân xưng như he, she, they thường xuyên để làm dấu ta đang nói về ai trong cuộc đối thoại này. Giáo sư nhắc nhở he, she, they không phải là someone hay somebody như các sách giáo khoa tiếng Nhật thường mượn tới. Ai đó không phải ảnh, cổ, hay họ. Ảnh, cổ, hay họ đều là những người ta biết đích xác là ai khi ta nói chuyện với nhau, trừ trường hợp ta đang học tiếng Anh pronouns là gì và cần làm bài luyện ngữ pháp. Ta sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ 3 he, she, they để không phải lặp lại tên hay bất kỳ chi tiết nào đó khác để xác nhận người đó là ai với nhau. Dân Mỹ Ăng-lê, theo Giáo sư Rubin, cần đọc lại sách giáo khoa để ôn lại phương hướng của các động từ trong tiếng Nhật – chủ ngữ thường tàng hình nhưng động từ luôn làm sáng tỏ ai là ai.

Đó là chưa nói đến kính ngữ hay khiêm nhường ngữ trong tiếng Nhật cho thấy phân cấp trong giao tiếp sẽ khác với tiếng Anh như thế nào. Mặc dù tiếng Anh cũng có cách riêng cho thấy sự lịch sự, sự phân biệt giữa người nhiều quyền hành hay địa vị cao với người ít quyền hành hay địa vị thấp, nhưng nhìn chung tiếng Anh không rườm rà hay cầu kỳ như tiếng Nhật. Dù sao thì quay lại cơ bản đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất cũng chỉ ‘I’ và ‘you’ trực tiếp với nhau ai là ai rồi.

Tiếng Nhật, tiếng Anh như vậy, vậy thì tiếng Việt ra sao nhỉ? Tôi tự hỏi người Việt hay người nói tiếng Việt mình có cách gì để hiểu với nhau ai là ai? Hiển nhiên đây không phải đề tài mới, do tôi từng đọc qua Giáo sư Cao Xuân Hạo nhiều năm trước và nếu tôi nhớ không nhầm thì Giáo sư có bài luận về cách xưng hô của người Việt Nam hiện đại với nhau. Việt Nam, một đất nước, một xã hội, đã trở thành một đại gia đình nhờ lối xưng hô như các thành viên trong gia đình giữa những người không cùng huyết thống, cũng chẳng có gì gọi là thân thiết. Không cần có mặt, nghe người nào nhắc về ai là đã có thể biết ai đó là nam hay nữ, thậm chí còn có thể đoán được người đó bao nhiêu tuổi và có vị trí ra sao so với người nói chuyện. Ông, bà, anh, chị, cô, chú, bác, em, con… (Một người nước ngoài nào đó đã phải thốt lên tiếng Việt chẳng có đại từ nhân xưng!). Người Việt Nam luôn nhắc nhở nhau, rõ ràng và cụ thể, ai là ai ở vị trí nào. Một gia đình…tự trị theo cảm tính, quản lý lẫn nhau theo cảm tính. Tiếc là hiện tại tôi không có sách của Giáo sư để kiểm chứng xem những gì tôi nói là Giáo sư nói có đúng hay không, nhưng nhìn xem, hai người Nhật không thân quen có thể chỉ cần thêm -san sau họ của đối phương để giữ phép tắc, lẫn khoảng cách, trong giao tiếp, còn hai người Việt thì phải xác lập luôn ai anh, ai chị, ai em, ai con, ai chú, ai ông, ai bà. Thử xưng tôi để lịch sự giữ phép tắc thời này mà xem… không lên nghị trường phát biểu sao lại phải như thế?

Making Sense of Japanese là một cuốn sách mỏng nhưng không thể đọc lướt qua là hiểu. Tác giả giải thích một cách súc tích tại sao một ngôn ngữ có vẻ trừu tượng, khó hiểu như tiếng Nhật thật ra cũng không trừu tượng và khó hiểu lắm. Mặc dù người viết bài này, tôi, còn đang ở ngưỡng nhập môn Nhật ngữ, nhưng cũng có thể sáng tỏ phần nào những điểm hiển nhiên với dân bản xứ nhưng hầu như chẳng tồn tại với dân khác xứ. Cái khó là thấy. Vừa đọc Making Sense of Japanese tôi lại nhận ra mình cũng đang được giúp making sense of English. Bao năm đèn sách tiếng Anh cũng có những điểm quen sử dụng mà chẳng thực ý thức (somebody is actually an arbitrary someone). Rồi lại quay lại thắc mắc, ủa, cái này, tiếng Việt mình thì sao?

Mà đến đây thì cũng xin nói rõ với Quý độc giả tuy quý vị chắc cũng đã rõ, tôi không phải là mình.

Rubin, J. (2013) Making sense of Japanese: What the textbooks don’t tell you. New York: Kodansha America.

Leave a comment